Lịch sử về trà, thức uống được cả thế giới yêu thích

Là loại đồ uống được yêu thích nhất trên thế giới, là thức uống chính trong hàng triệu căn bếp trên toàn thế giới, hàng tỷ tách trà được dùng hàng ngày. Bạn có biết rằng trà làm cho mọi người phấn chấn trong hàng ngàn năm không? Cùng hành trình để tìm hiểu lịch sử về trà, thức uống được cả thế giới yêu thích này.

Trà Oolong là giống cây trà hương, được chế biến bán lên men (lên men một phần). Tùy theo loại trà mà mức độ oxi hóa khác nhau, lên men khác nhau sẽ tạo ra hương vị đậm nhạt khác nhau. Khi pha nước có màu xanh vàng, dịu nhẹ và đem lại nhiều lợi ích cho sức khỏe của người thưởng trà. Khi trà được trồng ở độ cao 800-1000m, Xuân-Hạ-Thu-Đông rõ rệt sẽ tạo ra một nguồn nguyên liệu tuyệt phẩm.

Nguồn gốc và Lịch sử về Trà Oolong

Trà Oolong Việt Nam có nguồn gốc từ Trung Hoa, được phát triển đỉnh điểm ở Đài Loan từ cây giống, quy trình, thiết bị. Trà Oolong được du nhập vào Việt Nam từ năm 1988 do thương gia người Đài Loan mang qua. Khu vực ươm trà đầu tiên tại Đăk Nông và trồng nhiều từ năm 1989-1990.

Trà được phát triển trên diện tích rộng lớn tại Bảo Lộc (Bảo Lâm – Lâm Đồng). Vào năm 1999, trà Oolong bắt đầu được trồng và phát triển ở khu vực phía Bắc. Hiện tại sản lượng trà Oolong Việt Nam cung cấp ra thị trường thế giới chiếm khoảng 70%.

Tuy vậy ít người biết rằng trong suốt lịch sử phát triển của cây trà, Việt Nam luôn đóng một vai trò quan trọng đáng ngạc nhiên.

lich-su-hinh-thanh-va-phat-trien-ve-cay-tra

Tại sao trà Oolong có nhiều loại?

Mỗi một loại cây giống khác nhau sẽ tạo ra một chất lượng sản phẩm khác nhau. Bản chất nguyên liệu khác nhau nên quy trình chế biến cũng sẽ khác nhau.

Sự phong phú về chủng loại của trà được tạo ra nhằm nâng cao chất lượng để đáp ứng nhu cầu của người uống trà. Khi lai tạo một giống cây mới, các kỹ sư sẽ cố gắng khắc phục nhược điểm của giống cây. Sao cho phù hợp với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng để cây được sinh trưởng tốt, tạo ra năng suất và nâng cao chất lượng cũng như phù hợp hơn với quy trình chăm sóc từ nông nghiệp. Mục đích nhằm cải tiến chất lượng nguyên liệu, chất lượng thành phẩm của sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của thị trường.

Quy trình trồng trọt

  • Ươm ở vườn ươm 12 tháng thì đưa ra vườn trồng
  • Từ lúc trồng đến lúc bấm đọt khoảng 16-18 tháng. Sau 36 tháng thì đưa vào kinh doanh.
  • Khoảng 48-52 ngày thì hái một lứa, 1 năm có khoảng 6-7 lứa, thông thường hai lứa hái sửa tán một lần. Tuổi thọ cây trà trung bình 25 năm (Khoảng 8-10 năm trẻ hóa một lần).
  • 1ha có thể cho năng suất 3-5 tấn nguyên liệu, trồng được 35000-38000 cây.

Thành phần

1) Nước:

Hàm lượng nước trong lá trà giảm dần từ tôm đến các lá già (tôm 76.6%; lá một 75.6%; lá hai 75.6% và lá ba 74.26%). Hàm lượng nước thay đổi phụ thuộc vào tuổi thọ, sự phân bố địa lý của cây trà, các biện pháp canh tác, thời điểm thu hoạch (thời điểm trong ngày, theo tháng, theo mùa).

2) Chất hoà tan:

Là một hỗn hợp gồm nhiều chất khác nhau, có khả năng hoà tan với nước sôi và là chỉ tiêu chất lượng quan trọng của trà nguyên liệu và trà sản phẩm. Trong thành phần hỗn hợp này, khoảng 50% là hợp chất Phenol. Còn lại gần 50% là Glucid tan, Protein, Acid amin, Alcaloid (chủ yếu là Caffeine), sắc tố, vitamin, Enzym…

3) Tanin:

Đặc tính của Tanin có vị chát. Nó là chất trọng yếu trong nguyên liệu, ảnh hưởng nhiều đến phẩm chất của trà. Vị trà, hương thơm và các đặc tính khác đều do Tanin quyết định. Chất Tanin trong trà càng nhiều thì phẩm chất trà càng cao. Tuy nhiên còn tùy thuộc vào lượng Tanin có thể hoà tan trong Oxydietyl. Còn lượng Tanin nhiều nhưng ở trạng thái kết hợp thì phẩm chất kém hơn. Lượng Tanin nhiều hay ít phụ thuộc vào độ tuổi, thời kỳ hái, giống trà, điều kiện ngoại cảnh, phương pháp chế biến….

Lượng Tanin phân bố không đồng đều trên cùng một búp trà, tập trung nhiều nhất ở tôm (39.9%), rồi đến lá non (lá một 36.8%; lá hai 36.1%; lá ba 29.25%; cọng già 25%; lá bánh tẻ, lá già,…). Chất Tanin có khả năng kết hợp với Albumin để tạo thành chất không hòa tan. Tính chất này quan trọng đối với quá trình chế biến trà. Tanin kết hợp với Caffeine thành chất không hoà tan đóng váng trên mặt nước khi nước chè để nguội.

4) Protein và Acid amin:

Chiếm 22-26% chất khô. Qua chế biến, hàm lượng Protein và Acid amin có thay đổi: lượng Protein giảm còn lượng Acid amin tăng lên. Sở dĩ do quá trình thủy phân, một phần Protein trong trà tạo thành Acid amin trong quá trình chế biến. Acid amin tự do tác dụng với dẫn xuất Cathechin của trà tạo thành Aldehyt có mùi thơm dễ chịu cho trà. Albumin (protein đơn giản): Albumin là một loại chất hữu cơ có chứa Nitơ, là thành phần cấu tạo chủ yếu của các sinh vật. Hàm lượng Albumin trong trà lớn, thay đổi phụ thuộc nhiều điều kiện như thời kỳ hái, lá non hay già, điều kiện ngoại cảnh.

5) E. Alkaloid (chủ yếu là Caffeine):

Caffeine chiếm 3-5% trọng lượng trà, nhiều gấp 4 lần trong cà phê (theo Muler). Caffeine có tác dụng kích thích cơ thể con người, kích thích thần kinh trung ương. Tạo cảm giác hưng phấn, dễ chịu, nâng cao năng lực làm việc của xương, cơ, giúp thông tiểu. Lượng Caffeine trong trà biến đổi phụ thuộc hoàn cảnh bên ngoài, kỹ thuật bảo quản, giống trà, thời gian hái, vị trí địa lý. Caffeine tự do tồn tại trong lá trà tươi nhiều hơn trà thành phẩm.

Trong quá trình sản xuất, một số Caffeine kết hợp với một số chất khác làm giảm lượng Caffeine tự do. Do tính chất thăng hoa ở nhiệt độ 100-110oC, Caffeine bị tổn thất 10% khi sấy trà. Caffeine trong sản xuất do quá trình lên men phản ứng với các sản phẩm oxi hoá của Cathechin tạo ra Caffeine-Oxy teonat. Gọi tắt là Tanat-caffeine (chủ yếu ở trà đen). Sản phẩm này có thể bị kết tủa ở nhiệt độ thấp. Tạo thành lớp váng trên nước trà ở nhiệt độ thường, hoà tan khi nhiệt độ lên đến 60oC. Tanat – caffeine làm cho trà có đặc tính riêng về mùi, vị, màu sắc.

4) Protein và Acid amin:

Chiếm 22-26% chất khô. Qua chế biến, hàm lượng Protein và Acid amin có thay đổi: lượng Protein giảm còn lượng Acid amin tăng lên. Sở dĩ do quá trình thủy phân, một phần Protein trong trà tạo thành Acid amin trong quá trình chế biến. Acid amin tự do tác dụng với dẫn xuất Cathechin của trà tạo thành Aldehyt có mùi thơm dễ chịu cho trà. Albumin (protein đơn giản): Albumin là một loại chất hữu cơ có chứa Nitơ, là thành phần cấu tạo chủ yếu của các sinh vật. Hàm lượng Albumin trong trà lớn, thay đổi phụ thuộc nhiều điều kiện như thời kỳ hái, lá non hay già, điều kiện ngoại cảnh.

5) E. Alkaloid (chủ yếu là Caffeine):

Caffeine chiếm 3-5% trọng lượng trà, nhiều gấp 4 lần trong cà phê (theo Muler). Caffeine có tác dụng kích thích cơ thể con người, kích thích thần kinh trung ương, tạo cảm giác hưng phấn, dễ chịu, nâng cao năng lực làm việc của xương, cơ, giúp thông tiểu. Lượng Caffeine trong trà biến đổi phụ thuộc hoàn cảnh bên ngoài, kỹ thuật bảo quản, giống trà, thời gian hái, vị trí địa lý. Caffeine tự do tồn tại trong lá trà tươi nhiều hơn trà thành phẩm.

Trong quá trình sản xuất, một số Caffeine kết hợp với một số chất khác làm giảm lượng Caffeine tự do. Do tính chất thăng hoa ở nhiệt độ 100-110oC, Caffeine bị tổn thất 10% khi sấy trà. Caffeine trong sản xuất do quá trình lên men phản ứng với các sản phẩm oxi hoá của Cathechin tạo ra Caffeine-Oxy teonat. Gọi tắt là Tanat-caffeine (chủ yếu ở trà đen). Sản phẩm này có thể bị kết tủa ở nhiệt độ thấp, tạo thành lớp váng trên nước trà ở nhiệt độ thường, hoà tan khi nhiệt độ lên đến 60oC. Tanat – caffeine làm cho trà có đặc tính riêng về mùi, vị, màu sắc.

9) Chất thơ:

Hương thơm cũng là một chỉ tiêu rất quan trọng của trà thành phẩm. Hương thơm của trà được tạo nên từ 2 nguồn chất thơm khác nhau: chất thơm có sẵn trong nguyên liệu lá trà ban đầu (tinh dầu) và chất thơm tạo ra qua quá trình chế biến. Tinh dầu tự nhiên có trong lá trà hàm lượng rất thấp.

Qua quá trình chế biến, một số chất thơm mới được tạo ra. Theo quan điểm của các nhà sinh hoá thực phẩm thì Aldehyt giữ vai trò quan trọng trong tạo hương cho trà. Trong quá trình gia công chế biến. Hương thơm mới được tạo ra do sự tương tác giữa Acid amin và đường đơn. Giữa Acid amin với Tanin dưới tác dụng của nhiệt độ cao xúc tác bởi Enzym thường tạo ra các Aldehyt có mùi thơm. Hoặc chuyển hoá tiếp để tạo các chất thơm khác.

10) Chất tro:

Số lượng tro trong lá trà non và trong thành phẩm có khoảng từ 4-7%. Trà càng non tro càng ít. Chất tro trong trà gồm nhiều chất khác nhau. Mỗi chất đều có quan hệ mật thiết với sự sinh trưởng của cây trà. Những chất này có trong đất, được cây trà hấp thụ làm chất dinh dưỡng để nuôi cây. Các chất chủ yếu là kim loại, Cacbon, Assen, Kali, Canxi, Photpho, Lưu huỳnh, Silic…

11) Sinh tố (vitamin:

Trong trà có nhiều loại sinh tố: A, B, C, E, PP, F, D, K, P,… nhờ đó mà trà có giá trị dược liệu cũng như giá trị dinh dưỡng.

Một số giống cây trà

Lịch sử về trà, thức uống được cả thế giới yêu thích

  • Oolong thuần (Oolong trắng)
  • Oolong Kim Tuyên
  • Oolong Thúy Ngọc
  • Oolong Thanh Tâm
  • Oolong Võ Di
  • Oolong Tứ Quý
  • Oolong Hồng Tâm
  • Oolong Thiết Quan Âm
  • Oolong Hương Bắc Sơn

Công dụng

  • Chống vi khuẩn và virus.
  • Chống say nắng, chống viêm, lợi tiểu, hạ sốt.
  • Giải nhiệt cơ thể, giải độc và phòng chống dịch bệnh.
  • Tăng sức đề kháng, sảng khoái tinh thần, giảm stress.
  • Điều hòa huyết áp và tăng cường trí nhớ.
  • Làm đẹp da, trẻ hóa làn da, ngăn ngừa mụn, tàn nhang, nếp nhăn.
  • Giảm cân hiệu quả, chống béo phì.
  • Chống sâu răng, hôi miệng và loãng xương.
  • Phòng chống suy thận, suy lá lách.
  • Ngăn ngừa bệnh đái tháo đường.
  • Phòng chống ung thư, các bệnh về tim mạch, viêm khớp.

LỊCH SỬ VỀ TRÀ cung cấp một cái nhìn tổng quát, tinh tế và đầy thú vị về dòng chảy hai ngàn năm của thứ đồ uống quyền lực này.

Trên đây là một số thông tin liên quan đến lịch sử về cây trà. Hãy nhớ nâng cốc để nhớ đến lịch sử về người đã làm cho trà trở nên tuyệt vời như ngày nay.

>> Xem thêm: CÁCH PHA TRÀ CƠ BẢN